kháng thể

Trong hệ miễn dịch, kháng thể được xem lại thứ vũ khí lợi hại. Chất này giúp tiêu diệt vi khuẩn có hại, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể khỏe mạnh.

Kháng thể là gì?

Khi sinh vật xâm nhập vào cơ thể con người, cơ thể sẽ nhận biết và sản xuất ra các protein gọi là kháng thể (antibody). Các protein này tiêu diệt vi khuẩn có hại, bảo vệ cơ thể. Nếu khả năng hình thành kháng thể càng mạnh thì khả năng cơ thể miễn dịch chống lại các bệnh nhiễm khuẩn càng cao.

Ảnh minh họa: Internet

Có 5 loại, gồm:

IgG: phổ biến nhất trong máu. Có trong sữa non và các dịch mô. IgG xuyên qua nhau thai, bảo vệ con trong những tuần lễ đầu đời sau khi sinh khi hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triển.

IgA: Chiếm khoảng 15 – 20% trong máu. Có trong sữa non, nước mắt và nước miếng nước bọt. Được được tiết ra ở đâu thì IgA chống lại các tác nhân gây bệnh tại đó.

IgM: Là lớp miễn dịch đầu tiên được tổng hợp ở trẻ sơ sinh. Kết hợp với các kháng nguyên đa chiều như virus và hồng cầu, giúp tiêu diệt kháng nguyên xấu, bảo vệ cơ thể.

IgE: Chiếm tỷ lệ khá lớn. Giữ vai trò trong phản ứng quá mẫn cấp cũng như trong cơ chế miễn dịch chống ký sinh trùng.

IgD: Chiếm tỷ lệ ít nhất chỉ 1% trên màng tế bào, dị hoá nhanh. Rất dễ bị thuỷ phân bởi enzyme plasmin trong quá trình đông má. Vì vậy, IgD có ít chức năng nhất trong quá trình hoạt hoá kháng nguyên.

Một người lớn khoẻ mạnh nặng 70 kg sản xuất khoảng 3g kháng thể mỗi ngày. Khoảng 2/3 trong số này là IgA.

Sự hình thành

Việc hình thành là một quá trình rất phức tạp qua nhiều giai đoạn sau đây:

Giai đoạn cân bằng: Trong thời gian này, các kháng nguyên cân bằng giữa mạch máu và ngoài mạch máu bằng cách khuếch tán. Đó thường là một quá trình nhanh chóng. Từ khi kháng nguyên không còn khuếch tán nữa, thì giai đoạn này mất đi.

Giai đoạn chuyển hóa phân rã: Giai đoạn này, các tế bào và các enzym của cơ thể chuyển hóa kháng nguyên. Hầu hết các kháng nguyên bị các đại thực bào và tế bào thực bào khác bắt giữ. Thời gian dài hay ngắn sẽ phụ thuộc vào các chất sinh miễn dịch và cơ thể chủ.

Giai đoạn loại bỏ miễn dịch: Kháng thể vừa được tổng hợp sẽ kết hợp với các kháng nguyên và tạo thành phức hợp kháng nguyên-kháng thể. Sau đó, chúng bị thực bào và bị thoái hóa. Kháng thể tồn tại trong huyết thanh sau khi giai đoạn này hoàn thành.

kháng thể
Ảnh minh họa: Internet

Vai trò của kháng thể

Liên kết với kháng nguyên

Các globulin miễn dịch có khả năng nhận diện và gắn một cách đặc hiệu với 1 kháng nguyên tương ứng nhờ các vùng biến đổi. Trong phản ứng chống độc tố vi khuẩn, kháng thể gắn và qua đó trung hòa độc tố, ngăn ngừa sự bám dính của các độc tố này lên các thụ thể trên bề mặt của tế bào. Vì vậy, các tế bào của cơ thể tránh được các rối loạn do các độc tố đó gây ra.

Một số loại virus, vi khuẩn chỉ gây bệnh khi bám được vào các tế bào cơ thể. Vi khuẩn sử dụng các phân tử bám dính là các adhesive. Còn virus sử dụng các protein cố định trên lớp vỏ ngoài để bám vào các tế bào của cơ thể. Các kháng thể kháng các phân tử bám dính adhesive của vi khuẩn. Các kháng thể kháng protein capside của virus sẽ ngăn chặn chúng gắn vào các tế bào đích.

Hoạt hóa bổ thể

Hoạt hóa bổ thể là một tập hợp các protein huyết tương khi được hoạt hóa sẽ có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập. Gồm các cách:

  • Đục các lỗ thủng trên vi khuẩn.
  • Tạo điều kiện cho hiện tượng thực bào.
  • Thanh thải các phức hợp miễn dịch.
  • Phóng thích các phân tử hóa hướng động.

Huy động các tế bào miễn dịch

Sau khi gắn vào kháng nguyên ở đầu biến đổi, kháng thể có thể liên kết với các tế bào miễn dịch ở đầu hằng định. Những tương tác này có tầm quan trọng đặc biệt trong đáp ứng miễn dịch. Do đó, các kháng thể có khả năng gắn với một vi khuẩn với một đại thực bào và kích hoạt hiện tượng thực bào. Các tế bào lympho giết tự nhiên có thể thực hiện chức năng độc tế bào. Đồng thời, ly giải các vi khuẩn hoặc tế bào ung thư đã bị gắn kết bởi các kháng thể.